Business Law

Luật Hợp đồng (common law) (P2) – Phân biệt implied-in-fact contract và implied-in-law contract

Khi nhắc đến hợp đồng, hầu hết chúng ta đều liên tưởng đến xấp hồ sơ với chi chít những điều khoản hay thỏa thuận chi tiết bằng lời giữa hai bên. Đó được gọi là hợp đồng tường minh (express contract). Tuy nhiên, bên cạnh nó, còn có một loại hợp đồng khác mà ở đó, các điều khoản không được đề cập rõ ràng. Khoa học pháp lý gọi đó là hợp đồng không tường minh (implied). Tuy nhiên, loại hợp đồng này lại chia thành hai loại nhỏ hơn là implied-in-fact và implied-in-law. Chính điều này đã tạo nên sự khó khăn trong việc nhận biết hai loại này.

Xét loại hợp đồng implied-in-fact. Nếu dịch sát nghĩa, ta có thể hiểu đây là loại hợp đồng ngầm hiểu trong sự kiện diễn ra giữa hai bên. Về bản chất, ở loại hợp đồng này, sự giao kết giữa hai bên sẽ được suy luận từ hành vi của họ. Để có được một hợp đồng implied-in-fact, các yếu tố sau phải tồn tại:

  • Bên nguyên đơn đã cung cấp dịch vụ hoặc vật thuộc sở hữu của mình cho bị đơn.
  • Bên nguyên đơn mong muốn được trả tiền từ bị đơn hoặc bên nguyên đơn sẽ không cung cấp dịch vụ, tài sản đó nếu không có động cơ, lý do.
  • Bên bị đơn đã có thể từ chối những thứ nói trên được cung cấp bởi nguyên đơn, nhưng đã không làm vậy.

Không như implied-in-fact , hợp đồng implied-in-law hay còn gọi là Quasi contract có vẻ phức tạp hơn nhiều. Theo từ điển pháp lý, quasi contract còn được gọi là chuẩn hợp đồng. Loại hợp đồng này dựa trên lý thuyết về đối xử công bằng, mà ở đó, sự được lợi không chính đáng và sự mất mát không công bằng sẽ bị ngăn chặn. Do đó, hiểu về bản chất, đây là loại hợp đồng không có thật, chỉ được tạo ra bởi tòa án để áp dụng nguyên tắc đối xử công bằng, từ đó tạo ra nghĩa vụ giữa hai bên.

Để hình thành nên quasi contract, cần phải có 3 cấu thành cơ bản:

  • Nguyên đơn cung cấp cho bị đơn một lợi ích, hoặc yêu cầu được nhận một lợi ích với một kỳ vọng hợp lý sẽ được bồi thường nếu bên vi phạm không đáp ứng được những kỳ vọng của nguyên đơn.
  • Bị đơn phải biết rõ và chấp nhận những lợi ích được đề nghị trước đó và đã thu được lợi ích từ nó.
  • Bị đơn đã thu được những lợi ích mà bị xem là không công bằng trong khi nguyên đơn không được bù đắp lại xứng đáng.

Như vậy, so sánh hai loại hợp đồng, hợp đồng implied-in-fact tạo nên sự thỏa thuận giữa hai bên,và bên tìm cách tạo ra hợp đồng này có quyền mong muốn nhận được lợi ích từ bên kia. Còn hợp đồng implied-in-law được tạo nên bởi mong muốn của tòa án trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn sự được lợi bất chính.

Tóm lại, điều cần nhớ ở hợp đồng implied-in-law hay quasi contract là “Thậm chí trong trường hợp không có sự đồng ý hay thỏa thuận giữa hai bên, tòa án có thể tạo ra một loại hợp đồng để điều chỉnh sự công bằng cho đôi bên”.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s